“Cha lằn tay kéo pháo
Mẹ thương cha vá áo giữa lưng đèo”
Câu thơ đưa ta vượt qua núi non trùng điệp, ngút ngàn xa xăm của núi rừng Tây Bắc trong cuộc hành trình về với Điện Biên; khắc họa một thời máu lửa của những chiến sĩ pháo binh Việt Nam với đôi tay trần và tinh thần quyết chiến đã đưa những khẩu pháo vượt qua vực thẳm, đèo cao tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hình ảnh đó được hình tượng hóa bằng "Cụm tượng đài kéo pháo bằng tay "hoành tráng nằm trên Di tích đường kéo pháo bằng tay là một di tích thành phần thuộc Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ.

Cụm tượng đài kéo pháo bằng tay (Ảnh: sưu tầm)
Cụm tượng đài kéo pháo bằng tay được khánh thành năm 2009, nằm trong khuôn viên của Di tích đường kéo pháo bằng tay, được chế tác bằng đá xanh Thanh Hóa, tác giả là nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo. Đơn vị thi công là Doanh nghiệp tư nhân đá mỹ thuật Hoàn Hảo, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Cụm tượng mô phỏng những chiến sĩ pháo binh đầu đội mũ nan lưới, khoác trên mình chiếc áo trấn thủ, chân đi giày ba ta, trên đầu các anh là khoảng trời với những tán lá rừng vô cùng sống động đang dồn hết sức để đưa được khẩu pháo nặng hơn 2 tấn vượt qua con dốc hiểm trở vào tấn công quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa. Cụm tượng có chiều dài 24m, cao 12,5m, rộng 8m, nặng khoảng 1.200 tấn; gồm 29 nhân vật trong đó có 08 nhân vật toàn thân và 21 nhân vật bán thân được miêu tả cân đối, hài hòa, mỗi người mỗi vẻ, được bố cục trên một trục nghiêng, thể hiện sự chênh vênh nguy hiểm của con đường kéo pháo năm xưa.
Cụm tượng đài kéo pháo bằng tay thể hiện được tinh thần vượt khó của quân và dân ta, được giới hội họa đánh giá là một trong những tác phẩm có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao. Có thể nói cụm tượng được đặt ở vị trí vô cùng độc đáo, nằm cạnh quốc lộ 279 hướng Điện Biên - Hà Nội, thuộc địa phận xã Nà Nhạn, thành phố Điện Biên Phủ. Nơi đây đã ghi dấu ấn quá trình kéo pháo vào và kéo pháo ra của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đồng thời cũng là nơi gắn với tấm gương hy sinh anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện - người anh hùng được cả dân tộc biết đến.
Trở lại mặt trận Điện Biên năm xưa vào ngày 14/01/1954, tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở hang Thẩm Púa, Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã họp bàn và quyết định tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh" trong vòng 3 đêm 2 ngày.
Công việc cấp thiết lúc này là phải mở đường hành quân vào Điện Biên Phủ, đặc biệt là công tác mở đường cho pháo vào trận địa. Để kéo được pháo vào trận địa, bộ đội Việt Minh phải mở một tuyến đường dài 15km, rộng 3m và dùng sức người để kéo pháo. Nhiệm vụ quan trọng này được giao cho Đại đoàn 308 cùng Trung đoàn151, 367 và Trung đoàn 45, thời gian làm đường dự kiến trong một ngày một đêm.
Với khẩu hiệu "mở đường thắng lợi", sáng ngày 15/01/1954, lực lượng mở đường với tổng quân số hơn 5.000 người với những công cụ thô sơ như dao, rìu, cuốc, xẻng... đào vào các sườn núi cao hiểm trở, lại trong tầm kiểm soát của quân Pháp. Chúng cho máy bay ngày đêmdo thám và thả bom phá hủy những đoạn đường mới mở. Để đảm bảo an toàn và bí mật, các chiến sĩ công binh đã có sáng kiến ngụy trang bằng cây rừng hết sức khéo léo, khiến quân Pháp không thể phát hiện. Không khí làm việc trên toàn tuyến đường vô cùng khẩn trương, các đơn vị thi đua vượt khó, phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động… Sau 20 giờ đồng hồ vật lộn với đất đá, một con đường kéo pháo bằng tay chỉ có thể có trong tưởng tượng đã được hoàn thành vượt thời gian quy định 4 giờ, mà theo tính toán ban đầu để hoàn thành được con đường đó quân ta phải mất đến 40.000 dân công.
Chiều ngày 16/01/1954, bộ đội ta bắt đầu kéo pháo 105mm vào trận địa; việc kéo pháo vào rất gian nan vất vả, có đoạn phải vượt qua dãy núi cao đến 1.150m với độ nghiêng 600đến 700. Vì đường kéo pháo nằm trong tầm hỏa lực của quân Pháp nên việc kéo pháo chỉ thực hiện được vào ban đêm. Đêm sương giăng, cái lạnh tháng giêng miền sơn cước đã làm cho các chiến sĩ đôi mắt thâm quầng, lưng đẫm mồ hôi, đôi tay, đôi vai phồng rộp nhưng vẫn miệt mài kéo pháo. Tiếng mõ, tiếng hò dô âm vang lay động những khoảnh rừng. Những cánh tay cuồn cuộn bám chắc vào dây tời đủ các loại. Người bắt bánh, chèn bánh, người đẩy, người kéo. Tất cả những hình ảnh, âm thanh ấy tạo nên bức tranh hoành tráng hừng hực khí thế quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do.
Mặc dù khó khăn và vất vả, nhưng với tinh thần tất cả cho chiến dịch được toàn thắng, ngày đầu tiên hàng ngàn chiến sĩ kéo hết sức lực suốt cả đêm mới đưa được 07 khẩu pháo 105mm vào đến cửa rừng Nà Nham. Ngày thứ hai, lợi dụng cây rừng, anh em kéo cả ngày cũng chỉ đưa được 08 khẩu đi thêm được 1km. Sau đó các đơn vị rút kinh nghiệm có sáng kiến làm "tời" trên đỉnh dốc, bổ trợ cho sức kéo và giữ pháo của hàng trăm con người. Đoạn tới núi Pu Pha Sông phải vượt liên tiếp 07 lượt dốc, các chiến sĩ phải dùng đến 07 chiếc tời nối tiếp nhau nên được gọi là dốc Bảy Tời. Trước thực tế đó, Bộ chỉ huy chiến dịch cho xe đưa pháo vào sâu hơn, tới tận Nà Hy để giảm khoảng 03 ngày kéo pháo, nhưng ngày 19/01/1954, pháo vẫn chưa vào hết vị trí. Do những khó khăn đó ngày nổ súng ban đầu dự định là 20/01/1954, Bộ chỉ huy chiến dịch phải lùi lại 05 ngày. Ngày 24/01/1954, một chiến sĩ của ta bị bắt. Qua tin trinh sát kỹ thuật, biết quân Pháp nắm được thời gian nổ súng của ta là 17 giờ ngày 25/01/1954, Chỉ huy trưởng chiến dịch quyết định hoãn giờ nổ súng thêm 24 tiếng đồng hồ. Giữa lúc nàyta phát hiện quân Pháp đã hoàn thành việc tăng cường quân số và vũ khí cho Điện Biên Phủ. Sau khi nghiên cứu, phân tích, so sánh lực lượng giữa Quân đội Việt Nam vớiQuân độiPháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy không thể “Đánh nhanh, thắng nhanh” được, đành hoãn cuộc tiến công chiều ngày 26/01/1954, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”.
Để đảm bảo chắc thắng, bộ đội ta được lệnh kéo toàn bộ số pháo về vị trí tập kết ban đầu. “Quân lệnh như sơn”, các khẩu pháo nhất loạt quay đầu. Kéo pháo vào đã gian nan vất vả, kéo pháo ra còn gian khổ gấp bội phần. Đêm ngày 01/02/1954, khẩu pháo cao xạ 37mm của Khẩu đội 3, Trung đội 2, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367 ra đến dốc Chuối. Đêm tối, trời mưa, đường trơn, khẩu pháo bị đứt dây tời. Hàng trăm chiến sĩ của Tiểu đoàn 166, Trung đoàn 209, rạp người về phía sau, miết chân xuống mặt dốc. Các pháo thủ lấy guốc gỗ chèn vào bốn bánh nhưng khẩu pháo vẫn lao nhanh xuống dốc.Đồng chí Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và dùng hết sức mình kéo đòn lái về phía sườn núi nhưng pháo vẫn chồm qua, cuốn anh vào gầm, rồi khựng lại. Sau đó, anh đã hy sinh vào hồi 2 giờ 30 phút ngày 01/02/1954. Tấm gương hy sinh của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cho đồng đội quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đến rạng sáng ngày 04/02/1954, khẩu pháo cuối cùng được kéo về vị trí tập kết an toàn. Lúc này là vào mùng 2 tết Nguyên đán, Ban Chỉ huy tiểu đoàn tổ chức cho bộ đội ăn tết muộn trong rừng.
Sau khi ăn tết xong, bộ đội cùng dân công bắt tay vào mở đường, xây dựng trận địa pháo và tiếp tục kéo pháo vào trận địa thực hiện phương án “Đánh chắc, tiến chắc”, chuẩn bị cho một chiến dịch với quy mô dài ngày. Lúc này Trung đoàn 151 (Đại đoàn 351) và Đại đoàn 312, 316 nhận lệnh mở gấp 06 tuyến đường xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ để pháo binh cơ động chiến đấu. Các con đường được mở men theo sườn núi, trong tầm hỏa lực của quân Phápnên sau khi làm xong được ngụy trang kín đáo, giữ bí mật cho đến khi chiến dịch kết thúc.
Ngày 13/3/1954, Quân đội Việt Nam bắt đầu nổ súng tấn công vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, các chiến sĩ pháo binh của Trung đoàn lựu pháo 105mm và pháo cao xạ 367mm thuộc Đại đoàn 351 đã bảo vệ và yểm trợ đắc lực cho bộ binh lần lượt tiêu diệt, làm chủ các vị trí chiếm đóng của quân Pháp. Sau 56 ngày đêm gian khổ chiến đấu, quân và dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Chiến tranh đã qua đi nhưng tinh thần quả cảm và ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của các chiến sĩ pháo binh sẽ mãi đi vào huyền thoại lịch sử của dân tộc Việt Nam, được bạn bè quốc tế và những người bên kia chiến tuyến ngưỡng mộ và khâm phục. Ngày nay, Di tích đường kéo pháo bằng tay nói chung và Cụm tượng đài kéo pháo bằng tay nói riêng là điểm đến lý tưởng trong hành trình về nguồn của du khách. Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các hế hệ để rồi từ đó, mỗi chúng ta có thêm niềm tự hào, nghị lực vươn lên tiếp bước truyền thống của cha ông trong chiến dịch Điện Biên Phủ./