Những ngày tháng 5 lịch sử cả nước hướng về Điện Biên Phủ, nơi diễn ra trận đánh gay go và ác liệt giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân viễn chinh Pháp. Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giành toàn thắng. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến công vô cùng hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, cổ vũ phong trào đấu tranh chống Chủ nghĩa thực dân, giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi Chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. “Đó là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân Việt Nam mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Năm 1953, sau 8 năm trở lại xâm lược Đông Dương, dù đã huy động tiềm lực kinh tế, quân sự đến mức cao nhưng Thực dân Pháp vẫn không đạt được mục đích cơ bản đề ra là tiêu diệt chính phủ cách mạng và lực lượng kháng chiến của Việt Nam. Trái lại, thực dân Pháp phải chịu những tổn thất nặng nề, bị sa lầy trong một cuộc chiến hao tổn không có lối thoát. Mặt khác, những khó khăn về kinh tế, tài chính và phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong nước ngày càng dâng cao đẩy chính phủ Pháp rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị mới. Lợi dụng tình thế này, Đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp vào Đông Dương, tích cực viện trợ cho Pháp kéo dài và mở rộng cuộc chiến nhằm phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Tháng 5/1953, chính phủ Pháp cử tướng Navarre - người được đánh giá là có “nhãn quan chiến lược” sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau một thời gian tìm hiểu tình hình chiến trường, tháng 7/1953, tướng Navarre đề ra kế hoạch quân sự mang tên chính ông ta -  kế hoạch Navarre, với hy vọng sớm giành thắng lợi quân sự quyết định, tìm “lối thoát danh dự” dứt điểm cuộc chiến tranh. Sau khi phát hiện một bộ phận của Ðại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc, ngày 20 tháng 11 năm 1953, Navarre lập tức mở cuộc hành quân Casto cho quân nhảy dù xuống Ðiện Biên Phủ nhằm mục đích cứu nguy cho Lai Châu và bảo vệ Thượng Lào. Trong quá trình diễn biến của tình hình chiến sự mùa đông năm 1953, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, Ðiện Biên Phủ dần trở thành tâm điểm của Kế hoạch Navarre.

  Sau khi Navarre chọn Ðiện Biên Phủ làm điểm quyết chiến mang tính quyết định với chủ lực Việt Minh, thì Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Tổng Quân ủy cũng quyết định chọn Ðiện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân Pháp. Như vậy, từ chỗ không được để ý tới, Ðiện Biên Phủ trở thành "điểm hẹn lịch sử" mang tính chất một mất, một còn đối với cả hai phía. Ngày 06 tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Ngày 14 tháng 01 năm 1954, tại hang Thẩm Púa, Bộ chỉ huy mặt trận triệu tập hội nghị cán bộ chiến dịch để phổ biến kế hoạch. Hội nghị nhất trí tiến công Tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Tuy nhiên tình hình tại mặt trận Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh qua từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời như lúc trước nữa. Nếu đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì khó mà bảo đảm “chắc thắng”. Chính vì vậy Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định hoãn nổ súng, thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định thay đổi phương châm tác chiến cũng đồng thời các chiến sĩ được lệnh kéo pháo ra. Đây là một thử thách không nhỏ với các cán bộ, chiến sĩ pháo binh bởi kéo pháo vào đã khó khăn gian khổ, nhưng kéo pháo ra còn gian khổ gấp bội phần. Quân lệnh như sơn, các chiến sĩ triệt để chấp hành mệnh lệnh kéo pháo ra. Ngay từ chập tối ngày 26 tháng 01 năm 1954, lực lượng pháo binh của Việt Nam đã đồng loạt tiến hành rút khỏi trận địa. Cuộc chiến đấu với đèo cao, dốc thẳm lại được bắt đầu trở lại. Trong quá trình kéo pháo ra, anh Tô Vĩnh Diện đã không quản ngại hy sinh thân mình cứu pháo khi khẩu pháo có nguy cơ lao xuống vực, với tấm gương hy sinh của anh đã khích lệ, cổ vũ các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra an toàn, mờ sáng ngày 5 tháng 02 năm 1954 (Tức mùng 3 tết âm lịch), khẩu pháo cuối cùng đã được kéo về vị trí tập kết. Việc Quân đội Việt Nam có pháo lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một trong những yếu tố tạo nên bất ngờ lớn nhất đối với quân Pháp và góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Công tác kéo pháo vào mặt trận trong chiến dịch Điện Biên Phủ (Ảnh Sưu tầm)

Bên cạnh công tác kéo pháo thì công tác hậu cần cũng là một trong những việc mà quân Pháp cho rằng Quân đội Việt Nam khó có thể đáp ứng được vì Điện Biên Phủ là tỉnh miền núi hiểm trở, ở cách xa hậu phương hơn 500 km, phương tiện thô sơ, đường xấu, máy bay Pháp thường xuyên bắn phá, thời tiết không thuận lợi là những khó khăn rất lớn trong việc đảm bảo lương thực, vũ khí và sức khỏe để bộ đội Việt Nam chiến đấu. Với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “quyết tâm đập tan kế hoạch Navarre”, trên tuyến đường bộ Việt Nam đã huy động các loại phương tiện từ xe cơ giới đến thô sơ vận chuyển hàng chục ngàn tấn lương thực, vũ khí phục vụ cho mặt trận. Hàng ngàn chiến sĩ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có biết bao người là binh chủng hậu cần và dân công hỏa tuyến. Họ đã góp phần xương máu làm nên kỳ tích, bảo đảm hậu cần cho khoảng 87.000 người tham gia chiến dịch (bao gồm cả dân công phục vụ, lực lượng chiến đấu). Khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch lên tới 20.000 tấn, gần 25.000 tấn lương thực. Như vậy chúng ta đã thực hiện thắng lợi quyết định của Bộ Chính trị: “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này” (Văn kiện Đảng toàn tập, CTQG, H. 2001, T.15, tr.88.).

Công tác vận chuyển lương thực thực phẩm trong chiến dịch Điện Biên Phủ (Ảnh: Sưu tầm)

Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam nổ súng tiến công, mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh “Gan không núng, chí không mòn”. Đến 17h30 phút chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castries chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ. 24h ngày 7 tháng 5 năm 1954, Việt Nam kết thúc thắng lợi trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan những cố gắng quân sự cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Genève (7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 9 năm (1945- 1954). Đồng thời, chấm dứt ách thống trị của Thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.

          Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan một mắt xích quan trọng trong hệ thống thuộc địa của Chủ nghĩa thực dân cũ, mở đầu cho sự sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới; giáng đòn nặng nề đầu tiên vào dã tâm xâm lược của chủ nghĩa Đế quốc Mỹ. Cũng từ đây, “Tiếng sấm Điện Biên Phủ” có sức cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, nhất là các nước châu Phi, châu Mỹ latinh; đồng thời góp phần làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mac-Lênin thời đại ngày nay: Một dân tộc bị áp bức, nhưng nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do, có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, biết phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, sức mạnh thời đại thì hoàn toàn có khả năng đánh bại những đội quân xâm lược hung bạo.

Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ Quyết chiến, quyết thắng trên nóc Hầm De Castries (Ảnh Sưu tầm)

Để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ đó là sự quy tụ  của các nhân tố: đó là đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng; từ tinh thần yêu nước nồng nàn và nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh; sức mạnh đại đoàn kết của toàn tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến quyết thắng, với trí thông minh sáng tạo để khắc phục những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua, tạo nên bước tiến vượt bậc trong chiến đấu để đánh bại mọi kẻ thù. Đặc biệt tình đoàn kết, phối hợp chiến đấu giữa các nước trên bán đảo Đông Dương, sự giúp đỡ, đồng tình, ủng hộ của các nước bạn bè  quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp,Trung Quốc, Liên Xô.

  Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
       Liên kết website
      Thống kê: 270.491
      Online: 66
      °