Tỉnh Điện Biên là mảnh đất có bề dày lịch sử. Từ xa xưa đã có con người sinh sống và cư ngụ và cũng là một vùng trung tâm của người Việt Cổ. Tên gọi Điện Biên do Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Điện Biên tức là miền biên cương vững chãi của tổ quốc. Hiện nay trên mảnh đất Điện Biên có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hóa danh thắng, trong đó Di tích Thành Bản Phủ là minh chứng cho thời kỳ gìn giữ bờ cõi nước nhà của thế hệ cha ông ta.

Theo sử cũ ghi chép, vào thế  kỷ XVIII trên đất Mường Thanh Điện Biên giặc Phẻ (giặc Cỏ) từ phương Bắc tràn xuống vùng Mường Thanh cướp phá, giết hại dân lành. Tướng giặc là Phạ Chảu Tin Tòong vô cùng tàn ác, chúng thảm sát đồng bào ta hết sức dã man.  Trước tội ác hết sức dã man của giặc Phẻ nhân dân các dân tộc Mường Thanh vô cùng căm giận. Lúc bấy giờ ở Mường Thanh có hai thủ lĩnh người dân tộc Thái đã đứng lên đánh đuổi giặc Phẻ để cứu dân lành đó là tướng Ngải, tướng Khanh. Nhưng do sự tương quan lực lượng cùng vũ khí không tương xứng và kinh nghiệm chiến đấu chưa cao nên đã nhiều lần thất bại.

Vào năm 1751 hai ông nghe tin có tướng người miền xuôi tên là Hoàng Công Chất đang đóng quân ở Thượng Lào, hai ông đã liên kết với nghĩa quân của Hoàng Công Chất. Đội quân hợp nhất với binh hùng tướng mạnh đã hành quân trở về đất Mường Thanh, cùng nhân dân các dân tộc đoàn kết một lòng một dạ đánh đuổi giặc Phẻ, tiêu diệt tướng Phạ Chảu Tin Tòong tại đồi Pú Vằng (nay là đồi Độc Lập), giải phóng Mường Thanh vào năm 1754.

Sau chiến thắng giặc Phẻ năm 1754, theo nguyện vọng của nhân dân địa phương tướng Hoàng Công Chất ở lại Mường Thanh và đóng quân trong thành Sam Mứn để xây dựng vùng Mường Thanh thành căn cứ địa lâu dài. Sau này Tướng Hoàng Công Chất nhận thấy thành Sam Mứn không đảm bảo về thế phòng thủ. Năm 1758- 1762 Hoàng Công Chất cho xây dựng Thành Bản Phủ thành một thành lũy vững chắc và kiên cố và là thủ phủ của nghĩa quân.  

Thành Bản Phủ (hay còn có tên là thành Chiềng Lề) thuộc địa phận xã  Noong Hẹt, huyện Điện Biên, cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ 8 km về phía nam. Đây là một công trình kiến trúc quân sự đắp bằng đất kiến trúc theo kiểu ô vuông, thành chia ra 2 khu riêng biệt gồm Thành nội là khu trung tâm (nơi ở của thủ lĩnh Hoàng Công Chất và các tướng lĩnh) và Thành ngoại (nơi binh lính đóng quân, khu quân lương, kho vũ khí, tàu ngựa, chuồng voi....)

Đặc biệt, khu Thành ngoại có 130 cái ao với hình dạng khác nhau: vuông, tròn, tam giác, lục giác, bát giác để lấy nước ăn, nước sinh hoạt và luyện tập thủy quân, ở mỗi cửa có xây đồn đắp cao, có vọng tiêu và lính canh giữ, xung quanh phía ngoài chân thành có hào sâu bao bọc, phía ngoài trồng loại tre gai vây kín tạo thành một hàng rào tự nhiên phòng thủ và ngăn cản bước tiến của đối phương.Với các loại vũ khí lúc bây giờ, thành Bản Phủ được xem là một thủ phủ kiên cố nhất so với các thành được xây dựng cùng thời.

Sau khi Hoàng Công Chất cùng tướng Ngải, tướng Khanh qua đời, nhân dân các dân tộc Điện Biên đã xây dựng đền thờ với diện tích 48m2, đền được xây dựng theo kiểu kiến trúc đền thời Nguyễn, các cột kèo được ghép với nhau theo nhiều lớp trồng lên nhau, với nhiều mảng trạm khắc theo hình rồng phượng, mặt trăng, cỏ cây hoa lá.

Hiện tại, do ảnh hưởng của thời gian và vào thế kỷ XVIII khi quân Trịnh tiến vào chiếm giữ thì Thành Bản Phủ bị phá hủy phần nào, nhưng những gì còn lại cùng với sử sách lưu truyền và dân gian kể lại thì ngày nay Thành Bản Phủ vẫn còn nguyên giá trị lịch sử, văn hóa, khảo cổ. Năm 1992 đền được  xây dựng một  nhà bia tưởng niệm cạnh nhà thờ với diện tích 36m2, phần dưới kết cấu bê tông, phần mái lợp ngói đây là nơi giới thiệu tóm tắt về Hoàng Công Chất và hoạt động của nghĩa quân.

Hàng năm cứ mỗi độ Xuân sang đúng vào ngày mất của Hoàng Công Chất (25-2 âm lịch), nhân dân trong vùng lại hội tụ về đây thắp hương tri ân, thỉnh bái và dự lễ hội đền Hoàng Công Chất. Đây là Lễ hội tỏ lòng tôn kính, biết ơn với những người có công xây dựng khối đoàn kết đánh đuổi ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Tham dự lễ hội không chỉ có nhân dân các dân tộc trong tỉnh mà còn có nhân dân ở nhiều địa phương khác đến tham dự, hành hương về nguồn nâng cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội còn là dịp để nhắc nhở nhân dân các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Với giá trị lịch sử và nhân văn to lớn, Di tích lịch sử thành Bản Phủ được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1981./.

Hoàng Công Chất tên thật là Hoàng Công Thư, quê ở thôn Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1706 trong một gia đình nông dân và lớn lên cùng với những cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở khắp nơi chống lại triều đình Lê-Trịnh. Năm 1739, Hoàng Công Chất phất cờ khởi nghĩa tại vùng Sơn Nam (Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên). Lợi dụng vùng đầm lầy, sông nước nghĩa quân dùng thuyền nhỏ di chuyển và chiến đấu rất linh hoạt gây nhiều tiếng vang lớn. Các nghĩa quân của Vũ Đình Dung, Đoàn Doanh Chấn, Tư Cao...dần quy tụ dưới cờ nghĩa quân Hoàng Công Chất. Nghĩa quân ngày một lớn mạnh đã liên kết chặt chẽ với các cuộc khởi nghĩa khác của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu ... cùng đẩy mạnh chiến đấu gây không ít khó khăn cho triều đình Lê - Trịnh./.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
       Liên kết website
      Thống kê: 270.360
      Online: 58
      °