Sân bay Mường Thanh - Cảng hàng không lớn nhất khu vực Tây Bắc, cách đây gần 70 năm, quân đội Pháp đã từng sửa chữa, nâng cấp thành căn cứ không quân - lục quân lợi hại bậc nhất Đông Dương để bảo vệ cho những chính sách có lợi của Pháp tại Việt Nam. Nơi đây đã từng chứng kiến 56 ngày đêm khói lửa - nơi ghi dấu 1 huyền thoại giữa thế kỷ 20.
Ở nơi xứ Thái xa xôi vào năm 1953, khi những chiếc máy bay Dakota của quân đội Pháp xuất hiện cũng là lúc cánh đồng Mường Thanh đang hối hả vào mùa thu hoạch. Đó là ngày nguời dân ở xứ Thái chứng kiến những cái “xe bin xấc Tây” (máy bay của người Tây) bất ngờ xuất hiện thả dù từ trên bầu trời Mường Thanh khiến họ “Sững sờ một lát như bị đóng đinh xuống đất, rồi những người nông dân trên cánh đồng hoảng hốt chạy về phía những bản làng dường như xa chiến sự hoặc chạy về phía núi”, (ký giả Jules Roy – Chiến trận Điện Biên Phủ). Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng, những chuyến bay được cất cánh từ sân bay Mường Thanh thì người dân xứ Thái này không còn gì háo hức hơn họ được trải nghiệm cái thú “bay” trong bầu trời tự do của ta đưa người dân nơi đây về thăm thủ đô Hà Nội, thăm lăng Bác Hồ, thăm hồ con rùa hay đi thăm cả thành phố mang tên Bác... Hiện nay sân bay Mường Thanh đang trong quá trình nâng cấp thành cảng hàng không quốc tế đón những du khách trong nước và cả bạn bè quốc tế, để họ đến gần và hiểu rõ hơn cái tên Điện Biên.
Ngược dòng thời gian trở lại cách đây gần 70 năm, chỉ trong vòng 3 ngày từ 20 đến 22/11/1953, những chiếc máy bay Dakota đã thả khoảng 4.500 quân xuống 2 khu vực đã được chỉ định là Natacha (nằm ở phía Tây Bắc của lòng chảo Điện Biên) và Simone (nằm ở phía Nam). Trong vòng 10 ngày từ 23/11 đến 3/12/1953, quân đội Pháp đã thả hàng ngàn chiếc dù hàng với đủ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại xuống cánh đồng Mường Thanh để cung cấp cho chiến trường. Những cuộn dây thép gai, những thùng đạn dược, lương thực, thực phẩm, phuy Ét - xăng (1 loại Napan cô đặc), cùng với những khối đạn pháo và những phương tiện đủ loại được thả xuống Điện Biên Phủ. Đặc biệt quân Pháp ưu tiên 1 đội công binh nhanh chóng sửa chữa và lắp ráp 6000m2 đường băng sân bay Mường Thanh từ những tấm ghi thép. Đến ngày 25/11/1953, những chiếc máy bay Dakota đầu tiên đã đáp xuống sân bay Mường Thanh. Cùng với đó ở phía Nam lòng chảo Điện Biên quân Pháp cũng đã xây dựng mới 1 sân bay Hồng Cúm làm sân bay dự bị.
Ngày 29/11/1953, lần đầu tiên Hanri Navarre - viên Tổng tư lệnh 4 sao đặt chân lên thăm Điện Biên Phủ, ông ta đã tận mắt nhìn thấy vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về quân sự lẫn kinh tế của cái thung lũng xa xôi nơi xứ Thái này. Với con mắt của một nhà binh, Navarre đã nhìn thấy những ưu điểm của vùng đất này: “Đất này mà xe tăng cơ động thì tuyệt. Sân bay kia có thể sửa lại và mở rộng gấp hai ba lần. Đảo mắt lên những ngọn núi cao vút, rất xa, vây quanh lòng chảo, viên tướng thấy một không gian rộng cho phép các loại máy bay hoạt động, lên xuống dễ dàng những ngọn núi đó, bức thành thiên nhiên ngăn chặn không cho đối phương đặt pháo với tới lòng chảo. Ôi chao một địa bàn lý tưởng để xây dựng một căn cứ không quân, lục quân hiện đại lớn vào bậc nhất Đông Dương”. Như được củng cố thêm cho những tính toán, quyết tâm biến nơi đây trở thành một lô cốt chiến lược của quân đội Pháp, chỉ vài ngày sau, ngày 03/12/1953, Navarre đã ký bản mệnh lệnh số 949 chuyển đến cơ quan tham mưu và những người có liên quan về một chiến lược mới của vị Tổng chỉ huy, quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân đội Việt Nam. Không chỉ Navarre mà cả chính phủ Pháp đã gửi gắm vào Điện Biên Phủ một hy vọng rằng: Điện Biên Phủ giờ đây sẽ trở thành “căn cứ không quân - lục quân lợi hại”, một “lối thoát danh dự” cho nước Pháp, nơi quân đội của ông ta sẽ “nghiền nát” quân chủ lực của đối phương. Vào những năm 1920, khi ngành hàng không xuất hiện ở Đông Dương, chính phủ Pháp đã cho bố trí ở một số nơi trong rừng những bãi hạ cánh nhỏ giành cho những máy bay hồi đó thường hay gặp nạn có thể hạ cánh. Sân bay Mường Thanh vốn đã bị bỏ hoang từ năm 1939 - (Điện Biên Phủ một góc địa ngục – BernardB.Fall Tr74) - một cầu hàng không hiện đại bậc nhất Đông Dương. Navarre đã ném xuống Điện Biên Phủ những đội quân tinh nhuệ nhất, những trang thiết bị, vũ khí tối tân hiện đại nhất. Một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương nhanh chóng được hình thành với 49 cứ điểm, khoanh thành 8 cụm và chia thành 3 phân khu (phân khu Bắc - phân khu Trung Tâm - phân khu Nam). Cả Navarre và Cogny đều tin tưởng, lựa chọn nhân vật Đại tá Decatries - từng là một kỵ binh tài giỏi - người có thể “xây dựng lâu đài chiến thắng trong những không gian rộng lớn của vùng thượng du “khi ở đó đang cần một viên kỵ binh rừng núi”.
Không quân là lợi thế của quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi quân đội Việt Nam không có không quân, điều này tạo nên sự chênh lệch lực lượng lớn giữa Quân đội Việt Nam và Quân đội viễn chinh Pháp. Đầu năm 1954, máy bay Pháp ở Đông Dương lên tới 350 chiếc các loại: Máy bay vận tải (Dakota C47, Packet C119); Máy bay chiến đấu (Trinh sát, khu trục, tiêm kích, cường kích). Tại Điện Biên Phủ Pháp có hai sân bay, sân bay Mường Thanh và sân bay Hồng Cúm (dự bị). Sân bay Mường Thanh được Navarre đánh giá là “đầu mối tuyệt vời” của cầu hàng không Hà Nội - Điện Biên Phủ và nó đã trở thành “Dạ dày” của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong thư gửi cho Bộ trưởng các quốc gia liên kết Mac Jacquet, Navarre nhấn mạnh: “Tôi yêu cầu Chính phủ hãy tăng cường không quân cho Điện Biên Phủ, ta sẽ thắng hay thua trong trận Điện Biên Phủ là do không quân”. Các giới quân sự Pháp và Mỹ đều tin tưởng rằng Navarre sẽ làm nên một trận chiến lịch sử, giành thắng lợi lớn nhờ không quân. Để đảm bảo chắc thắng trong trận Điện Biên Phủ, thực tế Pháp đã tập trung hầu hết không quân chiến đấu và không quân vận tải cho cuộc chiến này.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sân bay Mường Thanh được kết nối với các cảng hàng không Hà Nội (2 sân bay Bạch Mai, Gia Lâm), Hải Phòng (sân bay Cát Bi). Trung bình mỗi ngày Sân bay Mường thanh có khả năng đáp ứng được hàng trăm chuyến máy bay lên xuống mỗi ngày, có từ 200 đến 300 tấn lương thực, vũ khí, đạn dược và thuốc men, và khoảng 150 binh lính. Số lượng binh lính Pháp ở Điện Biên Phủ có khoảng 10.800 quân, cùng với đó là 2.150 lính phụ lực bản xứ, quân số cao điểm nhất lên tới 16.200 quân. Trước khi chiến sự Điện Biên Phủ diễn ra, đã có một nguồn hàng lớn được dự trữ lên tới 8 ngày lương thực, 9 ngày Ét - xăng và chất đốt, 25 ngày cơ số đạn.
Khi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra cùng với sự xuất hiện của lựu pháo 105 ly, pháo cao xạ 37 ly của Trung đoàn cao xạ 367 bất thần xuất hiện, làm quân lính Pháp bất ngờ và choáng váng, ngay ngày đầu tiên ta đã phá hủy được máy bay của Pháp. Vào 8h30 phút ngày 14/3/1954, Đại đội 815, Tiểu đoàn 383 (Trung đoàn 367, Đại đoàn 351) đã bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ. Trong 5 ngày đầu của chiến dịch, hai Tiểu đoàn 383 và 394 đã lập công xuất sắc và bắn rơi 14 máy bay, 25 chiếc bị thương, làm tê liệt hệ thống sân bay vô cùng quan trọng của Pháp, loại bỏ khả năng cất, hạ cánh tại sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Từ ngày 27/3/1954, cùng với sự hoạt động mạnh mẽ của lựu pháo 105ly, pháo cao xạ 37 ly của ta hoạt động rất mạnh và làm chủ hoàn toàn bầu trời Điện Biên Phủ, không một chiếc máy bay nào có thể hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh và sân bay Hồng Cúm, việc tiếp tế phải trông đợi vào thả dù, điều này cho thấy, cầu hàng không mà Bộ chỉ huy Pháp đặt rất nhiều kỳ vọng trên thực tế lại không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cấp thiết của Tập đoàn cứ điểm khổng lồ tại thung lũng Mường Thanh. Máy bay của Pháp phải bay ở độ cao trên 2000 đến 3000m để thả dù, hơn nửa số dù hàng đó đã rơi lạc sang trận địa của ta, vô tình quân ta đã được tiếp tế khá nhiều lương thực và đạn dược, ngược lại quân Pháp lại rơi vào tình trạng khan hiếm trầm trọng.
Đầu tháng 5/1954, Mỹ tăng cường chi viện thêm 150 máy bay, thậm chí Bộ trưởng Quốc phòng Pháp quyết định ném tất cả số máy bay vận tải còn lại cho Navarre, tính đến thời điểm này không quân của Pháp gần như đã “Vét cạn túi” dốc toàn bộ cho cuộc chiến ở Điện Biên Phủ, nhưng kết quả của trận chiến này phần thắng vẫn thuộc về Quân đội của tướng Giáp.
Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, phía quân đội Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu và bức hàng 16.200 binh lính Pháp, bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh. Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam chưa bao bắt được số lượng tù binh nhiều như trong chiến dịch Điện Biên Phủ số lượng tù binh lên tới 10.000 quân. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ngồi vào vòng đàm phán kí Hiệp định Genevar chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương. Từ đây miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chi viện lớn cho miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và bằng cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Từ đây non sông đã thu về một mối, cả nước đi lên Chủ nghĩa Xã hội.
Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Từ năm 1958 - 2004, sân bay Mường Thanh nay là Cảng hàng không Điện Biên qua nhiều lần sửa chữa, đầu tư mở rộng đã trở thành sân bay lớn nhất miền Tây Bắc Việt Nam. Ngoài phục vụ thương mại sân bay còn phục vụ nhiệm vụ chính trị đảm bảo an ninh an toàn tuyệt đối cho các chuyến bay chuyên cơ, ưu tiên, chuyến bay quân sự của cán bộ Đảng, nhà nước và các khách ngoại giao lên thăm và làm việc tại tỉnh Điện Biên. Sân bay có một đường cất hạ cánh dài theo quy định có thể phục vụ các tàu bay cỡ nhỏ như ATR72 hoặc tương đương với tần suất không nhiều. Chào mừng kỉ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước sân bay Mường Thanh đã được đầu tư nâng cấp trở thành sân bay quốc tế và dự kiến sẽ khánh thành vào ngày 07/12/2023. Sân bay Mường Thanh sẽ là cầu nối quan trọng không thể thiếu với du khách trong nước và quốc tế khi đến với Điện Biên góp phần không nhỏ vào mục tiêu phát triển kinh tế chính trị xã hội của tỉnh./.