Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 , là chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của quân và dân ta. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng có sự đóng góp quan trọng của lực lượng quân y - “những chiến sĩ áo trắng” trong thời gian diễn ra chiến dịch.
Trong bất cứ chiến dịch nào lực lượng quân y luôn được quan tâm, đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ với quy mô lớn hàng chục nghìn chiến sĩ tham gia. Vì vậy việc đảm bảo sức khỏe cho bộ đội, dân công và nhanh chóng trả lại quân số chiến đấu cho các đơn vị ngay tại mặt trận là một yếu tố vô cùng quan trọng đã được Bộ chỉ huy chiến dịch đặc biệt quan tâm. Cục Quân y do đồng chí Vũ Văn Cẩn - Cục trưởng Cục quân y, Trưởng ban quân y Chiến dịch Điện Biên Phủ với tầm nhìn sâu rộng đã nghiên cứu tổ chức bộ máy ngành quân y hoạt động từ hậu phương đến hỏa tuyến gồm: 08 đội điều trị (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 10) cùng hàng trăm dân công biên chế vào các đội điều trị và 05 đội điều trị của 05 đại đoàn làm nhiệm vụ nuôi quân, hộ lý và cứu thương.
Trước khi các chiến sĩ quân y lên đường tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn: “Năm nay chiến trường ở xa, bộ đội có thể khổ, dân công cũng vậy, nhưng chớ để thương binh khổ”
Thực hiện lời căn dặn của Người, các chiến sĩ quân y luôn thấm nhuần tư tưởng “Lương y như từ mẫu”. Với quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, các chiến sĩ quân y hứa đem hết tài chí của mình để cứu chữa thương bệnh binh.
Chặng đường hành quân ra trận lắm dốc, nhiều đèo, vượt qua bao con suối, các chiến sĩ quân y chủ yếu hành quân vào ban đêm. Vất vả là vậy, các chiến sĩ quân y còn phải mang trên mình: Ruột tượng đựng gạo, túi y tế, bông, băng, thuốc, võng cáng thương… và cả những dụng cụ chuyên môn khác. Có nhiều đoạn đường máy bay quân Pháp bắn phá ác liệt, các chiến sĩ quân y phải dừng lại để cấp cứu cho bộ đội và dân công bị thương khi đang làm nhiệm vụ mở đường. Ban ngày, các chiến sĩ quân y phải trú quân ở những cánh rừng ven đường quốc lộ, ban đêm tiếp tục hành quân chặng đường đi dài khiến đôi chân ai cũng sưng phồng, lúc đó anh chị em có sáng kiến: Đào một hố rộng bằng hai bàn chân, lót nilon, rồi đổ nước nóng ngâm cho chân đỡ sưng để tiếp tục hành quân. Ngoài những khó khăn, vất vả chung khi hành quân, những chiến sĩ quân y là nữ còn phải đối mặt với những khó khăn, vất vả riêng.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, để thuận tiện và bảo đảm an toàn cho việc cứu chữa thương binh, ngành Quân y đã xây dựng toàn bộ hệ thống các cơ sở điều trị trong lòng đất. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các đội điều trị, bệnh xá cấp tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn đã thiết kế xây dựng “Bệnh viện ngầm” một cách hoàn chỉnh, khoa học. Ở các đội điều trị đều có hầm hào dựng lán trại để phục vụ cứu chữa cho thương binh được chia thành 3 khu: Khu A(trọng thương). Khu B (trung thương) có nhiệm vụ cấp cứu xử lý điều trị những thương binh nặng và vừa cho đến khi ổn định để chuyển về tuyến sau. Khu C (khinh thương) có nhiệm vụ thu dung những thương binh nhẹ và bệnh binh còn có thể tự phục vụ được một phần, đây là nơi tiếp nhận thương binh, bệnh binh nhiều nhất. Các hầm hào, lán trại được thiết kế có thể chống được phi pháo, nắp hầm được lát các cây gỗ to, trên phủ đất, cột chống đỡ hầm lớn, có giường nằm bằng cây, lót lá, vải và ni lông.
Thực hiện phương án “Đánh chắc, tiến chắc”, 17 giờ 05’ ngày 13/3/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Quân Pháp dựa vào hệ thống công sự kiên cố với binh lực, hỏa lực mạnh đã kháng cự lại Quân đội Việt Nam quyết liệt, gây sát thương nặng nề cho các chiến sĩ. Đến rạng sáng ngày 14/3/1954, những cáng thương binh đầu tiên đã về đến các đội điều trị. Thương binh khi về đến đội điều trị thường vào 1-2 giờ sáng, trong khi kỷ luật chiến trường là không được để lọt ánh sáng ra ngoài vì sợ lộ địa điểm; những lúc như vậy anh, chị em đều khẩn trương thực hiện nhiệm vụ: Y sỹ kiểm tra chọn lọc, y tá nhanh chóng lau rửa vết thương cho thương binh để chuyển nhanh vào hầm mổ. Những khi trời mưa, các chiến sĩ quân y lấy nilon, vải bạt của mình che cho thương binh, còn mình chịu ướt, với suy nghĩ: “Anh em đã đau đớn rồi, không để cho họ phải chịu rét nữa”. Có những ngày thương binh về dồn dập, các chiến sĩ quân y phải đứng mổ hay phụ mổ suốt ngày đêm, thiếu ngủ lại bị ruồi vàng đốt, nhưng không có cách nào phản ứng được vì tay còn đang làm nhiệm vụ, phải bảo đảm vô trùng.
Chế độ trực thương binh ở các khu trọng thương rất nghiêm, mỗi đêm các chiến sĩ quân y đi kiểm tra 03 lần vào: 09 giờ đêm, 12 giờ đêm và 03 giờ sáng. Trực đêm, lo nhất là theo dõi sức khỏe của thương binh bị thương ở sọ não. Đèn dầu phải che kín, chỉ để một lỗ nhỏ, mỗi lán có 05 - 07 thương binh, đi hết lán này đến lán khác, thấy thương binh nào nằm im thì kiểm tra xem thương binh đang ngủ hay đã tử vong. Để có đủ dịch truyền cho thương binh, dược tá ở ban dược thuốc các đội điều trị đã thực hiện pha chế tại chỗ. Dụng cụ pha chế khi hành quân bao gồm: Nồi nước cất, vỏ chai đựng dịch truyền, cân, màn để căng buồng pha chế, phễu lọc thuốc… đóng gói sao cho gọn gàng, không được vỡ, đến nơi đào hầm pha chế xong là triển khai ngay được.
Công tác quân y vốn dĩ thường “đi trước về sau” luôn được ưu tiên hàng đầu, việc cứu chữa thương binh đòi hỏi các chiến sĩ quân y là người giàu tấm lòng thương yêu đồng đội, tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phục vụ thương binh mau chóng hồi phục sức khỏe, sớm trả lại quân số chiến đấu cho các đơn vị, đồng thời giải phóng gánh nặng cho tuyến điều trị phía sau. Trong điều kiện thiếu thốn các chiến sĩ quân y có những sáng kiến riêng. Chị em hộ lý chuẩn bị các dụng cụ như: Chặt ống nứa thay mỏ vịt, đan phên tre và lót lá thay bô, đào hố xử lý các chất thải, khỏi ô nhiễm môi trường. Chị em cấp dưỡng khắc phục khó khăn, dù thương binh có đông vẫn đảm bảo bữa ăn đầy đủ . Dụng cụ đựng cơm, canh cũng tự tạo, học tập đồng bào thiểu số đan rá, đan giỏ bằng cây rừng để đựng cơm, cưa các ống vầu có mắt hai đầu để đựng canh, các hộp sắt chiến lợi phẩm được các chiến sĩ cắt gò lại thành thìa. Những công việc tưởng chừng như rất bình thường nhưng trong hoàn cảnh ác liệt của chiến trường các chiến sĩ quân y khắc phục mọi khó khăn, vất vả hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tính đến cuối tháng 3/1954, số lượng thương binh chuyển về các đội điều trị lên đến hơn 4.000 thương bệnh binh. Lúc này các chiến sĩ quân y làm việc liên tục không kể ngày đêm trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu máy móc, thiết bị, dụng cụ y tế, thuốc men... tìm mọi cách để cứu chữa thương binh. Bước sang tháng 5/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam mở đợt tấn công cuối cùng vào Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cũng trong đợt tấn công cuối cùng các chiến sĩ quân y đã cứu chữa gần 2.000 thương, bệnh binh. Trong suốt 56 ngày đêm diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ, các chiến sĩ quân y đã chăm sóc, cứu chữa cho gần 15.000 thương bệnh binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Sau khi kết thúc chiến dịch, các chiến sĩ quân y ở lại tiếp tục cứu chữa gần 1.500 thương bệnh binh của Quân đội Pháp. Đây là một trong những chính sách khoan hồng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Số tù binh Pháp bị thương nằm trong các hầm hào đã được các chiến sĩ quân y chăm sóc, cứu chữa cho đến khi cấp trên có chủ trương trao trả tù binh cho Quân đội Pháp.
Có thể nói các chiến sĩ quân y là những người không trực tiếp cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận, nhưng các anh, các chị đã đảm nhận nhiệm vụ không kém phần quan trọng. Họ vừa xông pha nơi trận địa đầy bom đạn và sự chết chóc để cứu chữa, chăm sóc, điều trị cho thương, bệnh binh vừa làm công tác tư tưởng, an ủi, động viên tinh thần cho bộ đội góp phần chung vào thắng lợi của dịch dịch Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954. Việc chăm sóc, cứu chữa và trao trả tù binh Pháp tại mặt trận Điên Biên Phủ làm cho Pháp và cả thế giới phải trầm trồ, thán phục về tinh thần nhân đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính nghĩa cuộc kháng chiến đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam./.